NGUỒN GỐC VIÊN SỎI
16 Tháng Chín, 2017
Ngộ
21 Tháng Chín, 2017
Hãy nghe một viên sỏi kể về nguồn gốc của mình: “Tôi vốn là một tảng đá khổng lồ trên núi cao, trải qua bao năm tháng dài đăng đẳng bị mặt trời nung đốt, người tôi đầy vết nứt. Tôi vỡ ra và lăn xuống núi, mưa bão và nước lũ cuốn tôi vào sông suối.

Nguyễn Du (Ất Dậu 1765 – Canh Thìn 1820)

Thi hào, tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên và có nhiều biệt hiệu như Hồng Sơn liệp hộ (về năm sinh, năm Ất Dậu là 1765, nhưng có sách ghi ngày 23 tháng 11 Âm lịch: 3-1-1766 mới đúng). Con Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm và bà Trần Thị Tần, quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An (nay là Hà Tĩnh), nhưng sinh ở Thăng Long.

Ông mồ côi cha lúc 10 tuổi, và mẹ mất lúc 12 tuổi, phải sống nhờ nơi người anh cả khác mẹ là Nguyễn Khản. Thời thế lúc ấy có nhiều biến động, ông sống trong cảnh khốn khó, nhưng vẫn kiên chí học tập, rèn luyện tài năng. Khi trưởng thành từng phải sống nhờ người anh vợ là danh sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn ở Thái Bình.


Từ năm 1802, triều đình Gia Long mời ông ra làm quan, bổ làm tri huyện Phù Dung , rồi đổi làm tri phủ Thường Tín. Năm Ất Sửu 1805, ông thăng hàm Học sĩ điện Đông các, rồi thăng Cần Chánh điện học sĩ và được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc (Quí Dậu 1813). Đi sứ về ông được thăng Hữu tham tri bộ Lễ.

Đến năm Canh Thìn 1820, lại được cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc lần nữa, nhưng chưa kịp đi thì ông bịnh mất ngày 10-8 Âm lịch (16-9 Dương lịch) lúc 55 tuổi. Ông mất ở Huế, lúc đầu tán ở xã An Ninh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, bốn năm sau (1824) mới cải táng ở quê nhà Tiên Điền.

Các tác phẩm chính của ông:
+ Đoạn trường tân thanh tức Truyện Kiều (chữ Nôm).
+ Văn tế thập loại chúng sinh (Nôm).
+ Văn tế Trường Lưu nhị nữ (Nôm).
+ Thanh Hiên thi tập (chử Hán).
+ Nam Trung tạp ngâm (chữ Hán).
+ Bắc hành tạp lục (chữ Hán).
Thơ Nguyễn Du mạng nhiều hình ảnh, dạt dào tình cảm, đầy thi tính cả trong thơ chữ Việt và chữ Hán.

Thơ chữ Hán của Nguyễn Du cho thấy phần sâu kín trong tâm trạng ông. Nó như một thứ nhật ký, giải bày mọi nỗi niềm, mọi ý nghĩ trong cảnh sống thường nhật của chính ông. Cả ba cuốn Thanh Hiên thi tập (viết trong khoảng 1785-1802, khi Nguyễn Du lánh ẩn ở quê vợ, Thái Bình, rồi trở về Hồng Lĩnh và ra lại Bắc Hà làm quan triều Gia Long);

Nam trung tạp ngâm (1805-1812, khi Nguyễn Du làm quan ở Huế rồi cai bạ Quảng Bình); và Bắc hành tạp lục (1813-1814, thơ viết trên đường đi sứ Trung Hoa) đều có một giọng u trầm thấm thía, đầy cảm xúc nội tâm.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du như một tiếng thở dài luận bàn nhân tâm thế sự và xót thương thân phận. Một hình ảnh trở đi trở lại là mái tóc bạc, Nguyễn Du có mái tóc bạc sớm, mái tóc như biểu tượng của lo nghĩ, của những nghiền ngẫm buồn thương và bế tắc

Tráng sỹ bạch đầu bi hướng thiên
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên
Dịch:
Tráng sỹ ngẩng mái đầu tóc bạc bi thương than với trời xanh
Chí lớn một đời và miếng ăn hàng ngày cả hai đều mờ mịt
Khi quân Tây Sơn ra Bắc năm 1786, Nguyễn Du trung thành với nhà Lê không cộng tác, tìm đường lánh ẩn, chịu sống nghèo khổ. Những thiếu thốn vật chất đôi lúc lộ ra trong thơ:
Thập khẩu hài nhi thái sắc đồng
Dịch:
Mười đứa con sắc mặt xanh như lá
Hoặc:
Trong bếp suốt ngày không có khói lửa
Trước đèn phải mượn chén rượu cho gương mặt được hồng hào
Do vậy, ông thấy:
Nhất sinh từ phú như vô ích
Mãn giá cầm thư đồ tự ngu
Dịch:
Một đời chữ nghĩa thành vô ích
Sách đàn đầy giá chỉ làm ta ngu dốt

Lời nhận xét thật chua chát, bế tắc. Mái tóc bạc như một chứng tích tiều tụy cho cái nghịch lý ấy: Phơ phơ tóc bạc sống gửi ở nhà người, rồi: Già đến, tóc bạc đáng thương cho ngươi. Mái tóc cũng bạc đã thành bạn tri âm cho Nguyễn Du than thở: Tóc sương là bạn đi cùng. Nói là già nhưng lúc viết Thanh Hiên thi tập Nguyễn Du chỉ ở tuổi 20 đến 37. Trù trướng lưu quang thôi bạch phát

Một sự chọn hướng trái chiều với bước đi của lịch sử làm Nguyễn Du ngùi ngẫm giằng xé cả một đời, ngay cả thời gian ra làm quan với Gia Long: Ơn vua chưa trả đỉnh đinh
Mưa xuân nhuần thấm nhưng mình lạnh xương

Tạ ơn của vua nhưng lại thấy buốt lạnh trong xương cốt vì Nguyễn Du ôm một nỗi niềm éo le. Giáo lý Khổng Mạnh dạy: Tôi trung không thờ hai vua. Nhưng với Nguyễn Du, vua phải thờ thì hèn kém, thậm chí rước voi về giày mồ (Lê Chiêu Thống), còn vua phải chống thì lại anh hùng, bảo vệ độc lập dân tộc (Quang Trung). Biết mà không vượt qua được, ông mong được hậu thế cảm thông:

Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như
Có một nỗi niềm đến phút cuối Nguyễn Du vẫn phải nén lại và mang đi. Buồn thương, cô đơn đã thành thuộc tính của đời ông như màu xanh là thuộc tính của cỏ:
Nhân tự bi thê, thảo tự thanh
Dịch:
Người tự buồn thương, cỏ tự xanh

Nguyễn Du hay nói tới thân phận tha hương, lưu lạc, nỗi nhớ quê nhà... trong các bài thơ. Ông thấy tài năng văn chương như con chim phượng nhốt trong lồng nát và công danh thì cùng đường như con rắn đã chui trong hang.

Bình sinh văn thái tàn lung phượng
Phù thế công danh tẩu hác xà

Ở các bài vịnh nhân vật và luận về các sự kiện lịch sử Trung Hoa trong Bắc hành tạp lục, Nguyễn Du đã xuất phát từ quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc của con người để cân đo lại trọng lượng các vĩ nhân và các chiến công ầm ỹ một thời.

Nguồn: sưu tầm

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *